Tết trẻ con và thần linh
Quê tôi nằm ven sông Lam, con sông gắn bó với bao thế hệ dân quê như dòng máu âm ấm chảy qua lòng đất mẹ. Mùa Tết quê tôi cũng là mùa mưa gió, lạnh lẽo, heo may thốc lên từ triền sông khiến da thịt ai cũng nứt nẻ. Cái rét ở miền trung du này chẳng bao giờ hiền lành, nó cắn vào da, rít qua từng kẽ áo. Lũ trẻ như chúng tôi phải bôi kem chống nẻ môi, đứa nào nhà nghèo không có, cười một cái là rướm máu tươi nơi khóe miệng. Vậy mà lạ lắm, rét thế, nứt cả da thịt thế mà lũ trẻ chúng tôi lại thấy... thích.
Cái thú của bọn trẻ quê tôi đâu phải đồ chơi điện tử hay áo quần mới, mà là trò lột bẹ mo cau, kéo nhau ra con đường đất đỏ nhão nhoẹt sau mưa để trượt. Một đứa ngồi trên một bẹ mo, đứa kéo đứa đẩy, đứa la hét, rồi thể nào cũng có đứa té lộn đầu, lấm lem từ tóc đến chân. Đất đỏ dính bết lại như sơn, nhưng niềm vui thì sáng rực lên trên mặt. Tắm rửa gì cho cam, chỉ cần hong khô bên bếp củi là có thể gỡ từng mảng bùn ra, ném đi một cái là xong, dù áo quần vẫn ám cái màu dam dam của đất.
Cái lạnh ấy khiến ai cũng ngại tắm. Mọi thứ đều teo tóp dưới cái lạnh cắt da thịt ấy.
Ở quê, mùa đông tới đầu mùa xuân có khi chỉ tắm đôi ba lần là cùng. Vậy mà đến chiều ba mươi Tết, nhà nào cũng có lệ: Đi tắm. Nó như một cái lễ gột rửa bụi bặm, xui xẻo của cả năm để bước sang năm mới tinh tươm, sung túc hơn và nhiều hy vọng hơn. Nhưng lạnh quá, ai dám tắm nước lạnh? Thế là người ta nấu nồi nước lá, bốc mùi thơm ngai ngái của bưởi, sả, gừng, tía tô, mùi ta. Hơi nước bay nghi ngút, cả sân quê như có khói lam chiều. Cha mẹ lùa hết lũ trẻ vào tắm từng đợt. Xơ mướp khô, đá cuội cứ thế mà kỳ cọ cho bay da tét thịt.
Nhà tôi thì đặc biệt hơn, nồi nước tắm cuối năm chính là nồi nước nấu rượu. Mẹ nấu rượu quanh năm. Ngày cuối cùng của năm, trong khi bố tôi đang tỉ mẩn gói bánh chưng, bà lại loay hoay bên nồi rượu. Lâu lâu mẹ lại thay nước, nói là “cho rượu chảy đều”. Nồi nước ấy được tận dụng để tắm. Mẹ bảo: “Nước này là nước thần linh đấy con ạ, vừa xua xui vừa thơm mùi nếp rượu”.
Mẹ tôi tin rằng, mọi lễ giỗ chạp, lễ Tết thì “xôi nếp và rượu” là hai thứ tổ tiên và thần linh yêu thích nhất. Mẹ bảo:
- “Ở đâu cũng thế, từ châu Á tới tận trời Tây, người ta đều cúng thần linh và tiên tổ bằng rượu, xôi. Không có hai thứ ấy thì chẳng thành lễ tết, giỗ chạp đâu con ạ”.
Tôi tròn mắt hỏi:
- “Sao thần linh lại thích rượu hả mẹ?”
Mẹ cười, bảo:
- “Thì thần luôn muốn mình được vui, có chút men thì thần mới thấy vui. Thần vui thì mới hào phóng ban phước, tài lộc và phù hộ cho con người”.
Sau này lớn lên, tôi gặp một ông nhà văn, ông nói y hệt mẹ tôi ngày trước. Ông kể chuyện thằng Bờm để chứng minh xôi là thức ăn mà thần yêu quý. Ông nói rằng Bờm không đổi quạt mo để lấy “ba bò chín trâu”, không lấy “ao sâu cá mè” hay “bè gỗ lim” là vì Bờm chính là thần linh. Thần đâu cần của cải, đâu cần những thứ vật chất tầm thường như con người! Thần linh chỉ cần “nắm xôi”. Tôi nghe mà muốn bật cười, nhưng rõ ràng suy luận đó đầy thú vị và rất logic.
Tắm rửa bằng thứ nước “thần linh” đó, tôi thấy mình nhẹ bẫng. Thau nhôm dùng để tắm là của một gia đình có con đi Liên Xô gửi về, bố mẹ tôi đổi mấy tạ lạc mới có. Thân tôi nhỏ, nằm lọt thỏm trong thau mà kỳ cọ. Lạnh thế mà thích, vì sau khi tắm xong, da thịt rát mà tinh tươm, cảm giác như một thiên thần. Nếu đủ trí tưởng tượng tôi nghĩ phía sau lưng mình đã mọc hai cánh nhỏ và tôi sắp bay lên để gặp ông thần thích ăn xôi và uống rượu. Để tôi hỏi ông ấy có thật như lời mẹ tôi nói không?
Cả nhà tôi ai cũng có những hy vọng riêng cho năm mới. Bố mẹ mong ruộng đồng bội thu, đàn lợn không bị dịch, giá heo bò lên cao để đủ tiền cho tôi đi học. Còn tôi, niềm mong ước đơn sơ lắm: một chiếc xe đạp để tới trường, một đôi dép tổ ong mới và một cái áo mưa thật sự. Lũ trẻ hàng xóm có cả rồi, còn tôi vẫn mơ hoài. Dép tổ ong của tôi chằng chịt vết vá. Cứ đứt quai là mẹ lại lấy “mũi liềm đỏ au” như cây đũa thần của bà tiên rút ra từ bếp tro than, dí vào nối hai múi dép lại. “Phép thần thông” của mẹ kỳ lạ lắm, vá đến đâu, dép liền tới đó, tuy loang lổ nhưng trông ngộ nghĩnh. Có khi dép màu đỏ, mẹ lại nối với quai xanh, nhìn chẳng giống ai, nhưng đi thì vẫn êm chân.
Còn cái áo mưa. À không, gọi nó tên “bao mưa” thì đúng hơn. Vì nó chính là cái bao ni-lông lót trong bao đường loại 50 ký. Mẹ cắt một lỗ vừa đầu tôi, khoét hai bên tay, tròng vào người rồi đội nón lá. Vậy là có áo mưa. Nó theo tôi qua bao mùa gió rét, ra đồng chăn bò, lên núi Chùa Khê thả diều. Nhiều bữa trời mưa to, bao ni-lông dính chặt người, gió tạt vào nghe “phạch phạch”, tôi tưởng mình như siêu nhân.
Tết quê tôi giản dị lắm, nhưng ấm lạ thường. Mùi khói bếp, mùi nếp mới, mùi rượu chảy lẫn với mùi đất rú Chùa Khên và phảng phất mùi đất phù sa sông Lam ngai ngái. Trên mái tranh, những giọt mưa phùn đọng lại, lấp lánh như những hạt thủy tinh. Trong nhà, mẹ vẫn lúi húi nấu bánh chưng, còn cha ngồi bên chõng. Cha uống nước trà rồi chíp chíp, mẹ uống ly rượu nồng đầu tiên của năm khà một tiếng rõ to. Chúng tôi, gật gù nghe tiếng radio đang phát thư “Chúc mừng năm mới”.
Giờ đây, mỗi khi nghe thông báo lịch nghỉ Tết, lòng lại rộn lên một niềm háo hức khó tả. Nhưng lạ thay, chẳng phải mong Tết của người lớn với những mâm cao cỗ đầy, câu đối đỏ hay pháo hoa rực trời mà là “Tết của lũ trẻ con ngày xưa”.
Tết của bùn đất, của mo cau, của dép vá, của nồi nước lá sôi ùng ục, của khói rượu bay nghi ngút bên bếp tro. Tết của những nụ cười rướm máu vì nẻ môi, của bàn tay mẹ nứt nẻ, của giấc mơ về chiếc xe đạp bãi. Tết quê tôi, dù nghèo, vẫn lấp lánh như dòng sông Lam trong nắng xuân nhẹ mênh mang, trong trẻo, và không bao giờ cạn ký ức.
Lê Phi








